Y học giấc ngủ đã được công nhận là một chuyên ngành lâm sàng trong khoảng 50 năm qua. Việc ứng dụng điện não đồ (EEG) để đánh giá hoạt động giấc ngủ đánh dấu một bước ngoặt, mở đường cho các nghiên cứu và liệu pháp điều trị hiệu quả cho các rối loạn giấc ngủ [1]. Hiện nay, theo Phân loại Quốc tế về Bệnh tật (ICD-10), rối loạn giấc ngủ được chia thành nhiều nhóm, trong đó “rối loạn hô hấp liên quan đến giấc ngủ” là một trong những chủ đề được quan tâm nhiều nhất [2].
Phân loại rối loạn hô hấp liên quan đến giấc ngủ
Theo AASM (American Academy of Sleep Medicine), nhóm rối loạn này bao gồm [3]:
-
Hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (Obstructive Sleep Apnea – OSA): đặc trưng bởi sự xẹp một phần hay hoàn toàn đường thở trên lặp đi lặp lại.
-
Hội chứng ngưng thở khi ngủ trung ương (Central Sleep Apnea Syndromes): giảm hoặc ngừng hoàn toàn nỗ lực hô hấp do mất điều hòa thần kinh trung ương.
-
Rối loạn giảm thông khí trong giấc ngủ (Sleep-related Hypoventilation Disorders): PaCO₂ tăng cao kéo dài trong giấc ngủ.
-
Rối loạn giảm oxy máu trong giấc ngủ (Sleep-related Hypoxemia Disorder): SpO₂ giảm kéo dài mà không kèm ngưng thở rõ rệt.
Giải phẫu bình thường của đường thở trên
Đường thở trên bao gồm các cấu trúc từ mũi – khoang mũi – hầu – thanh quản, có vai trò then chốt trong hô hấp, nuốt và phát âm. Vì thiếu “giá đỡ” xương hoàn thiện, đường thở trên dễ bị xẹp dưới tác động của các lực sinh lý và ngoại sinh [4].
-
Khoang mũi
-
Vách ngăn mũi: cấu tạo sụn và xương, chia đôi khoang mũi
-
Các xoăn mũi: gồm xoăn mũi trên, giữa và dưới tạo ra các ngách mũi để dẫn lưu xoang cạnh mũi và làm ấm ẩm không khí [5].
-
Niêm mạc: vùng tiền đình lót biểu mô lát tầng; phần còn lại lót biểu mô hô hấp có tế bào tiết nhầy và lông chuyển.
-
Bất thường hay gặp: vách ngăn lệch, polyp mũi, phì đại cuốn mũi… đều tăng sức cản, góp phần làm trầm trọng OSA [6].
-
Hầu (Pharynx)
Hầu kéo dài từ nền sọ đến bờ dưới sụn nhẫn (C6), chia làm ba vùng chính:
-
Hầu mũi (Nasophar) : Giới hạn trên là nền sọ và giới hạn dưới là khẩu cái mềm, lót biểu mô hô hấp, chứa vòi nhĩ và ống vòi Eustachian.
-
Hầu miệng (Oropharynx): từ khẩu cái mềm đến bờ trên nắp thanh môn; thành bên có mô lympho (hạnh nhân khẩu cái, hạnh nhân lưỡi) và nhiều cơ như cơ cằm lưỡi [7].
-
Hạ hầu (Hypopharynx): từ nắp thanh môn đến bờ dưới sụn nhẫn, tiếp nối thực quản.
Các cơ siết hầu (trên, giữa, dưới) và nhóm cơ giãn đường thở trên phối hợp để giữ độ thông thoáng đường thở trong quá trình hô hấp và đóng khí quản khi nuốt.

-
Nhóm cơ duy trì độ thông thoáng đường thở
-
Cơ ngoại lai của lưỡi (m. genioglossus, m. hyoglossus, m. styloglossus, m. palatoglossus) là lực chính đưa lưỡi ra trước – lùi; riêng cơ cằm-lưỡi (m. genioglossus) giữ vai trò chủ đạo trong duy trì độ mở của đường thở trên, ngăn xẹp thành hầu [8].
-
Các cơ của khẩu cái mềm (m. tensor veli palatini, m. levator veli palatini, m. palatoglossus, m. palatopharyngeus, m. uvulae) điều hòa hình dạng và trương lực màn hầu.
-
Hệ cơ – xương móng (nhóm cơ suprahyoid và infrahyoid cùng xương móng – os hyoideum) quyết định vị trí xương móng, từ đó tác động trực tiếp đến thể tích khoang khí mũi-hầu và hầu dưới.
-
Các cơ siết hầu (m. constrictor pharyngis superior, medius, inferior) hỗ trợ quá trình nuốt và có thể thay đổi đường kính lòng hầu.
-
Bộ xương mặt
Bộ xương mặt gồm xương hàm trên (maxilla), xương hàm dưới (mandibula) và xương móng (os hyoideum), đóng vai trò “khung đỡ” cho niêm mạc và các hệ cơ bao quanh đường thở trên.
-
Xương hàm trên : tạo thành sàn và thành bên khoang mũi; vòm khẩu cái hẹp và cao làm giảm thể tích khoang mũi-hầu, làm tăng nguy cơ rối loạn hô hấp khi ngủ [9].
-
Xương hàm dưới: vị trí tương đối của thân và cành hàm dưới quyết định kích thước không gian đường thở vùng hầu; hàm dưới lùi sau hoặc nhỏ là yếu tố nguy cơ đã được xác lập của ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ.
-
Xương móng cùng các cơ trên-dưới móng điều chỉnh trục hầu-thanh quản; vị trí xương móng thấp hoặc lùi sau có thể làm hẹp đường thở.
Thiết bị MADs cải thiện OSA bằng cách dịch chuyển hàm dưới ra trước và/hoặc hạ thấp, kéo theo lưỡi và xương móng, tăng thể tích hầu mũi-miệng và giảm sụp thành hầu trong thì hít vào [10].
Hiểu rõ giải phẫu đường thở trên giúp chẩn đoán chính xác và tối ưu hoá các phương pháp điều trị rối loạn hô hấp giấc ngủ. Ứng dụng các kỹ thuật hình ảnh giải phẫu và đo chức năng (MRI, CT, đo áp lực, v.v.) sẽ tiếp tục làm sáng tỏ cơ chế bệnh sinh và hướng đến các liệu pháp cá thể hóa.
Tài liệu tham khảo
-
Dement WC, & Kleitman N. (1957). The relation of eye movements during sleep to dream activity. J Exp Psychol.
-
World Health Organization. (2016). ICD-10: International Statistical Classification of Diseases and Related Health Problems.
-
American Academy of Sleep Medicine. (2014). ICSD-3: International Classification of Sleep Disorders, 3rd ed.
-
Gray H. (2020). Gray’s Anatomy: The Anatomical Basis of Clinical Practice, 42nd ed. Elsevier.
-
Netter FH. (2014). Atlas of Human Anatomy, 6th ed. Saunders.
-
Rombaux P., & Huart C. (2018). Anatomical determinants of nasal obstruction in OSA patients. Sleep Med Rev, 37, 30–39.
-
Kuna ST., & Remmers JE. (2013). Upper airway muscle activity during sleep. Chest, 143(4), 1027–1036.
-
Hoekema A., Stegenga B., & de Bont LG. (2004). Oral appliance therapy in obstructive sleep apnea: A systematic review. Sleep Med Rev, 8(6), 379–391.